Nguyễn Du, bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đã thể hiện sự tinh tế và sâu sắc trong từng câu chữ khi khắc họa nỗi lòng của Thúy Kiều. Qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong “Truyện Kiều”, người đọc không chỉ cảm nhận được tâm trạng phức tạp của nhân vật mà còn thấu hiểu sự đồng cảm của đại thi hào dành cho nàng.
I. Bối cảnh và tâm trạng bi thương của Thúy Kiều
Tại lầu Ngưng Bích, giữa không gian “khóa xuân” và khung cảnh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng, Thúy Kiều chìm trong nỗi cô đơn, xót xa, tủi nhục sau những biến cố cuộc đời: bị ép duyên, bán mình chuộc cha, bị Mã Giám Sinh làm nhục. Nàng đứng trước một bước đường cùng, lựa chọn quyên sinh nhưng số phận trớ trêu lại buộc nàng phải tiếp tục sống, chứng kiến và trải nghiệm những nỗi đau đớn cùng cực của kiếp hồng nhan bạc mệnh. “Khóa xuân” ở lầu Ngưng Bích khiến nàng băn khoăn về tương lai, về bến đỗ cuộc đời. Trước mắt nàng là bốn bề vắng lặng, khung cảnh thiên nhiên mông lung, heo hút không một bóng người bầu bạn.
Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng cảnh vật thiên nhiên làm nền cho sự vận động nội tâm của nhân vật. Theo quan niệm “thiên nhân tương đồng” của người xưa, trong thơ ca phương Đông, cảnh vật thường đồng cảm với tâm trạng con người: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều). Tâm trạng cô đơn, bẽ bàng của Kiều nhuốm lên cả cảnh vật, khiến nàng nhìn đâu cũng chỉ thấy sự mênh mông, bát ngát của “cát vàng còn nợ bụi hồng dặm kia”.
II. Nỗi nhớ đan xen và sự day dứt trong tâm hồn Kiều
Trong những giờ phút cô đơn tột cùng, con người có xu hướng lắng nghe tiếng nói sâu thẳm từ cõi lòng, nơi những suy nghĩ, trăn trở, day dứt và ký ức ùa về. Kiều cũng rơi vào hoàn cảnh ấy. Nàng tìm kiếm một “điểm tựa tâm linh”, một sợi dây hạnh phúc hoặc một ảo giác tốt lành để neo giữ tâm hồn giữa những đau thương. Nàng hướng về người yêu, hướng về gia đình, nhưng cuối cùng, nàng lại quay về với chính mình.
Một điểm đáng chú ý trong đoạn trích là Kiều nhớ đến Kim Trọng trước, sau đó mới nhớ đến cha mẹ. Xét về tình cảm cá nhân, đây là một logic tâm lý dễ hiểu, nhưng đặt trong bối cảnh xã hội phong kiến lúc bấy giờ lại gây nhiều tranh cãi. Nguyễn Du, với sự thấu hiểu sâu sắc nhân vật, đã đặt tình cảm riêng tư lên trước bổn phận báo hiếu. Đối với cha mẹ, Kiều đã phần nào đền đáp ơn sinh thành khi bán mình chuộc cha. Còn với Kim Trọng, nàng luôn day dứt, tự trách mình là kẻ phụ tình: “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Chính vì vậy, khi viết về tâm trạng nhớ thương của Kiều, Nguyễn Du đã để nàng nghĩ đến chàng Kim trước, thể hiện sự tinh tế trong việc khắc họa tâm hồn nhân vật và tình cảm dang dở của một mối tình đẹp nhưng đầy trắc trở.
III. Thiên nhiên là tấm gương phản chiếu tâm trạng nhân vật
Nguyễn Du không miêu tả trực diện nỗi đau của Kiều mà sử dụng hình ảnh thiên nhiên đa dạng để ẩn dụ, biểu hiện tâm trạng nhân vật với nhiều sắc thái khác nhau. Đúng như lời nhận xét của một nhà văn phương Tây: “Mỗi phong cảnh là một trạng thái tâm hồn”. Nỗi buồn của Kiều được tượng trưng bằng những khung cảnh khác nhau, được tô đậm liên tiếp qua điệp ngữ “Buồn trông”:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Nhịp điệu, điệp ngữ “Buồn trông” như tiếng vọng của nỗi lòng thổn thức, cô đơn, quạnh quẽ và vô vọng. Cái tủi hận, xót xa, thấp thỏm lo sợ cứ như một ám ảnh khôn nguôi sau mỗi lần láy lại cụm từ “Buồn trông”. Nguyễn Du nén chặt lòng mình vào mỗi vần thơ, ông muốn chia sẻ nỗi buồn với nàng, đồng thời gợi lên những tiếng lòng nơi độc giả. Cánh buồm sẽ đi về đâu? Hoa sẽ trôi dạt vào bến đỗ nào? Nỗi buồn thương vô vọng kéo dài đến bao giờ?
Kết đoạn thơ với hình ảnh “hoa trôi man mác”, “nội cỏ rầu rầu”, “mặt đất một màu xanh xanh”, “gió cuốn mặt ghềnh”, “ầm ầm tiếng sóng kêu” không chỉ vang lên tiếng gọi của định mệnh, rung chuyển tiếng gầm gào của hiểm họa muốn nhấn chìm người con gái đơn côi, yếu đuối trên chiếc ghế đĩamỏng manh, chênh vênh. “Ầm ầm tiếng sóng” là điềm báo không lành, một thảm họa sắp đến với Kiều? Đến đây, người đọc cảm thấy trái tim mình se thắt lại, thương cảm lo lắng cho Kiều. Quả thật, ngay sau đó, nàng đã mắc lừa Sở Khanh, chấp nhận kiếp sống lầu xanh. Đoạn thơ kết thúc nhưng trước mắt ta, trong tâm trí ta vẫn còn ám ảnh hình ảnh một con thuyền bản mệnh chòng chềnh giữa biển cả cuộc đời không bến đậu.
IV. Tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du
Nguyễn Du với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường) mới có thể viết nên những áng thơ tình tứ đến nhường này. Ông viết với thái độ của một người đồng tâm, đồng cảnh với nhân vật, nên mỗi dòng thơ đều chất chứa nỗi đau, sự chia sẻ, cảm thông. Đoạn thơ không chỉ diễn tả nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu mà quan trọng hơn là thể hiện bi kịch nội tâm của Kiều, biểu hiện những sắc thái tinh vi của tâm trạng. Đó chính là thông điệp nghệ thuật mà người đọc cảm nhận được qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Du, Truyện Kiều, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Văn học, 1973
- Đặng Thanh Lê, Giảng văn Truyện Kiều, NXBGD Việt Nam, 1997
- Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên), SGK Ngữ văn 9, Cánh diều (bản mẫu), Tập 1, NXBGD Việt Nam, 2024








