Cương lĩnh chính trị đóng vai trò kim chỉ nam, dẫn dắt mọi bước đi của cách mạng Việt Nam. Trải qua các giai đoạn lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều bản Cương lĩnh, mỗi bản mang dấu ấn lịch sử và định hướng chiến lược riêng, phản ánh sự phát triển tư duy lý luận của Đảng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cách mạng.
I. Các Cương Lĩnh Lịch Sử Quan Trọng
1. Chánh Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (Tháng 2 năm 1930)
Bản Chánh Cương vắn tắt, do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2 năm 1930) thông qua, tuy ngắn gọn chỉ với 282 chữ, đã xác định rõ nhiều vấn đề nền tảng về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Về chính trị, Cương lĩnh xác định đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến, lập nên nhà nước công nông binh, tổ chức quân đội công nông. Về kinh tế, đề ra chủ trương tịch thu tài sản lớn của tư bản Pháp, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ để chia cho dân nghèo cày cấy, miễn thuế cho dân nghèo, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thực hiện luật lao động 8 giờ. Về xã hội, Cương lĩnh nhấn mạnh quyền tự do của nhân dân, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo công nông hóa. Cùng với Chánh Cương vắn tắt, các tài liệu khác như Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng đã trở thành những văn kiện kinh điển, xác lập đường lối chiến lược, sách lược cơ bản của Đảng và mục đích, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Tháng 10 năm 1930)
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 năm 1930) tại Hương Cảng đã thông qua bản Luận cương chính trị, còn gọi là Luận cương cách mạng tư sản dân quyền. Bản luận cương do đồng chí Trần Phú khởi thảo, tiếp tục khẳng định và bổ sung những tư tưởng cốt lõi về con đường cách mạng Việt Nam đã nêu trong Chánh cương vắn tắt. Luận cương xác định nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến, địa chủ, lập chính phủ công nông, tịch thu ruộng đất chia cho nông dân, xóa bỏ các sưu thuế, thực hiện luật lao động 8 giờ, cải thiện đời sống người lao động, giành độc lập hoàn toàn, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, lập quân đội công nông, ủng hộ Liên Xô và đoàn kết với giai cấp công nhân thế giới. Phương pháp đấu tranh được đề ra là bãi công, bãi khóa, bạo động, tổng bãi công báo động, kết hợp đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày với mục đích lật đổ đế quốc, địa chủ, giành độc lập, lập chính phủ công nông. Luận cương nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi cách mạng, Đảng phải có đường lối chính trị đúng, kỷ luật tập trung, liên lạc chặt chẽ với quần chúng và tôi luyện qua đấu tranh.
3. Chánh cương Đảng Lao động Việt Nam (Tháng 2 năm 1951)
Chánh cương Đảng Lao động Việt Nam, được thông qua tại Đại hội II của Đảng (tháng 2 năm 1951), do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo soạn thảo. Bản Chánh cương phân tích sâu sắc bối cảnh xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc và Nhật xâm chiếm, chỉ ra rằng Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân và nông dân là những tầng lớp bị áp bức nặng nề nhất. Nhiệm vụ căn bản của cách mạng Việt Nam lúc này là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tạo cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Động lực của cách mạng bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, thân sĩ yêu nước. Chánh cương khẳng định cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội, là cuộc đấu tranh lâu dài qua nhiều giai đoạn, với nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc. Về chính sách, Đảng chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân dựa trên Mặt trận dân tộc thống nhất; phát triển kinh tế, tài chính, cải cách ruộng đất, văn hóa, giáo dục, thực hiện chính sách dân tộc, đối ngoại.
4. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Tháng 6 năm 1991)
Sau khi đất nước thống nhất, đứng trước bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng ta đã ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) tại Đại hội VII (1991). Cương lĩnh này đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Cương lĩnh xác định mục tiêu và đặc trưng của xã hội XHCN là xã hội do nhân dân lao động làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, sống ấm no, tự do, hạnh phúc; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; có quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế. Cương lĩnh cũng chỉ rõ quá trình quá độ lên CNXH ở Việt Nam là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường, với mục tiêu tổng quát là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, kiến trúc thượng tầng phù hợp, đưa Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh. Cương lĩnh 1991 đã mở ra quá trình nhận thức đầy đủ hơn về CNXH, chuyển đổi mô hình xây dựng đất nước từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
5. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)
Tại Đại hội XI (2011), Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) được xây dựng dựa trên tổng kết thực tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 25 năm công cuộc Đổi mới và dự báo xu thế thế giới. Cương lĩnh 2011 không chỉ khẳng định con đường XHCN mà còn đưa vào những nội dung mới phù hợp với xu thế thời đại như xu thế hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển, đồng thời chỉ ra những thách thức gay gắt trên thế giới và khu vực. Cương lĩnh 2011 thể hiện niềm tin vững chắc vào mục tiêu, con đường đi lên CNXH, góp phần củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng và sự đồng thuận xã hội.
II. Điểm Chung và Ý Nghĩa Lịch Sử
Điểm chung xuyên suốt các Cương lĩnh của Đảng là tư tưởng nhất quán về cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi đến cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Nhân dân là động lực cách mạng, Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội của nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mỗi Cương lĩnh đều mang những giá trị nội dung và ý nghĩa lịch sử to lớn: Cương lĩnh 1930 là cơ sở cho các cao trào cách mạng và thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945; Cương lĩnh 1951 định hướng cho cuộc kháng chiến chống Pháp và xây dựng miền Bắc XHCN; Cương lĩnh 1991 mở ra thời kỳ Đổi mới và nhận thức đầy đủ hơn về CNXH; Cương lĩnh 2011 khẳng định sự phát triển, hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng, thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai CNXH.







